chữa bệnh tại nhà
Hotline: 0936.34.32.30
Menu Giới thiệu Dịch vụ Bảng giá
Phục hồi chức năng

Tổng quan bệnh tai biến mạch máu não và điều trị

Tai biến mạch máu não gồm những biểu hiện bệnh lý đột ngột, cấp tính có tính chất khu trú của hệ thần kinh trung ương do giảm cung cấp máu tới não.

1. Biểu hiện của tai biến mạch máu não

Tai biến mạch máu não gồm những  biểu hiện bệnh  lý đột ngột, cấp tính có tính chất khu trú của hệ thần kinh trung ương do giảm cung cấp máu tới não. Chẳng hạn như: liệt nửa người và mặt cùng bên, tê bì hay rối loạn cảm giác nửa thân, nói khó, hoặc nhìn khó; có thể kèm theo hôn mê hoặc rối loạn tri giác.
Bệnh thường xảy ra đột ngột, có hoặc không có dấu hiệu báo trước như đau đầu, buồn nôn... Trong vài phút hoặc vài giờ, người bệnh có thể bị liệt hoàn toàn nửa người (gồm cả mặt, tay và chân cùng bên). Liệt nửa người là dấu hiệu thường gặp nhất; ngoài ra có thể gặp các dấu hiệu khác như nói ngọng, tê bì nửa người, lẫn lộn, đại tiểu tiện không tự chủ...
tai biến mạch máu não
Bệnh có thường gặp không?
Ở các nước phát triển, tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tử vong thứ 3 sau bệnh ung thư và tim mạch. Ở Hoa kỳ, cứ 100.000 dân thì có 794 người bị, còn ở  Pháp, trong 1000 dân có 60 người bị tai biến mạch não. Thống kê ở  Việt Nam năm 1994 cứ 100.000 người dân thì 115 người bị. Theo số liệu của Khoa phục  hồi chức năng, Bệnh viện Bạch mai (1999),
22,41% bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa là bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não.
 Dấu hiệu bệnh tai biến mạch máu não
 

1.1. Vận động

−  Do yếu hoặc bị liệt một bên nửa người, người bệnh  sẽ bị khó khăn khi lăn trở ở giường; khó thay đổi tư thế. Kể cả khi nửa người không liệt hẳn thì đi lại vẫn gặp khó khăn do rối loạn thăng  bằng hoặc mất cảm giác nửa người bên liệt...
−  Khó lăn sang hai bên, nhất là lăn sang bên lành.
−  Khó ngồi dậy và ngồi cho vững.
−  Khó đứng dậy và đi lại.
−  Ngoài khó khăn khi di chuyển, người bệnh còn khó thực hiện các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày do cử động tay và thân  mình khó. Các hoạt động bao gồm: ăn uống, rửa mặt đánh răng, thay quần áo, tắm giặt...

1.2.  Co cứng / co rút / biến dạng

Co cứng: Là các cơ bị cứng kể cả khi nghỉ ngơi, cản trở vận động  bình thường. Nắn bắp cơ thấy rắn chắc hơn bình thường. Bệnh nhân bị liệt nửa người sau một thời gian vài tháng  thường  bị co cứng cơ. Khi cử động chi bên liệt thấy cử động bị cứng, bị khó như bị cản lại. Tất cả các bệnh nhân đều bị co cứng theo  một kiểu như nhau nên người ta gọi đây là mẫu co cứng của người liệt nửa người.
 
−  Các cơ ở nửa người bên liệt co cứng và co ngắn hơn so với bên lành, nên cổ bị ngả sang bên liệt, thân mình cũng nghiêng sang bên liệt.
−  Tay liệt: do  bị co cứng  các cơ gập, khép  và xoay trong;  nên  khớp  vai, khớp khuỷu và cổ tay, bàn tay bị gập và khép và xoay trong.
−  Hông bên liệt khi đi bị kéo cao hơn bên lành.

−  Khớp háng, khớp gối và cổ chân bị duỗi nên khi đi chân liệt có cảm giác dài hơn chân lành, hông bên liệt buộc phải nhấc cao hơn.
mẫu co cứng bệnh nhân liệt nửa người 
Co rút cơ: Tất cả những cơ bị co cứng một thời gian dài sau đó dễ chuyển thành co rút. Cơ và mô mềm co ngắn lại gây hạn chế vận động của khớp, đau khi cử động. Các cơ gấp ở tay và cơ duỗi ở chân hay bị co rút. 
Cứng khớp / biến dạng khớp: Cơ bị co cứng rồi co rút, làm hạn chế vận động của khớp. Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến cứng khớp. Các khớp bị cứng  đầu tiên là khớp vai, khớp háng và khớp cổ chân ở bên liệt. Cứng các khớp khác xuất hiện muộn hơn.
 cứng khớp bệnh nhân sau tai biến cổ chân cứng và biến dạng

1.3. Giao tiếp

Khoảng 25-30% người bị liệt nửa người có nguy cơ bị khó khăn về giao tiếp. Đó là nói khó, nói không rõ tiếng hoặc thất ngôn.
- Hiểu lời nói kém: phải nói đi nói lại nhiều lần.
- Diễn đạt bằng lời nói kém.
- Đọc và viết kém: người bị TBMMN tự viết mấy dòng hoặc đọc thành tiếng một đoạn khó.

1.4. Hoạt động hàng ngày

Các hoạt động: ăn uống, chải đầu, đánh răng, tắm giặt, thay quần áo, đi vệ sinh... có thể không tự làm một mình. Người bị TBMMN có thể cần trợ giúp bằng dụng cụ hoặc sự giúp đỡ của người khác.

1.5. Công việc

Phần lớn người bị tai biến mạch máu não đều đang ở tuổi lao động hoặc mới nghỉ hưu. Sau khi hồi phục, cần quan tâm tới việc làm tạo thu nhập để người bệnh có thể sống một cách độc lập.

1.6. Cuộc sống gia đình và xã hội

Cứ 3 người bị tai biến mạch máu não  thì có 2 người là đàn ông. Bị bệnh, vai trò gánh vác việc gia đình, chăm sóc con cái bị thay đổi. Trách nhiệm đó dồn lên vai người vợ. Do vậy, việc hỗ trợ tâm lý cho gia đình và cho người khuyết tật là cần thiết.

1.7. Tâm lý

Hầu hết những  người sau khi bị TBMMN, đều trở nên trầm cảm, lo âu về bệnh tật, sợ bệnh tái phát. Số khác thì ì trệ, không tham gia vào tập luyện; còn những người khác lại ỉ lại, chờ đợi sự chăm sóc, phục vụ của gia đình và người thân... Bản thân gia đình họ cũng lo lắng, không biết phải hỗ trợ như thế nào. Do vậy, nhân viên phục hồi chức năng cần chăm sóc và hướng dẫn gia đình họ cùng tập luyện, tự làm các hoạt động tự chăm sóc; động viên người bệnh...

 2. Nguyên nhân và đề phòng bệnh tai biến mạch máu não

 

 

TT

 

nguyênhânyếtố ngucơ

 

                                                  Đề phòng

1

Bệnh tim

Pháhiện và điều trị bệnh tim: hẹp

  van hai lá, điều trị rung nhĩ, huyết khối...

2

Tăng huyết áp

Kiểm soát huyết áp

3

Hút thuốc 

Bỏ hoặc giảm hút

4

Nghiện rượu

Bỏ hoặc giảm lượng rượu

5

Đái tháo đường

Pháhiện sớm và điều trị bệnh.

  Theo dõi các biến chứng của đái tháo đường

6

Béo phì

Điều chỉnh chế độ ăn cho hợp lýgiảm mtăng thịt nạc

  rau xanh. Không nhịn, ăn điều đ.

7

Căng thẳng/ áp lực

Điều chỉnh công việc/ nghỉ ngơi hợp 

8

Thuốc tránh thai

Tư vấn của thàthuốc/ thađổi thuốc

9

Thói que năn uống

Giảm muối, thịt mỡ và thức ăn giàu cholesterol...

3. Phát hiện bệnh nhân tai biến mạch máu não

Dấu hiệu và triệu chứng
- Yếu hoặc liệt nửa người một bên.
- Mất hoặc rối loạn cảm giác của một bên nửa người.
- Cơ nửa người co cứng hoặc mềm nhẽo.
- Rối loạn ngôn ngữ do hiểu kém hoặc diễn đạt kém.
- Mất các cử động quen thuộc: chải đầu, mặc áo... vụng về, khó khăn.
- Rối loạn về nói: nói ngọng, nói lắp hoặc nói to quá, nhanh quá...
- Rối loạn về nuốt: nuốt nghẹn, uống sặc...

4. Điều trị bệnh nhân tai biến mạch máu não

Điều trị tại bệnh viện
Trong đợt điều trị cấp cứu của tai biến mạch não, người bệnh cần được nằm và theo dõi tại bệnh viện. Dấu hiệu cấp cứu là hôn mê đi kèm với liệt nửa người, đại tiểu tiện không tự chủ. Ở bệnh viện, tình trạng sức khoẻ và tri giác của người bệnh được theo dõi và điều chỉnh. Các thuốc thường được dùng ở giai đoạn này là thuốc tăng cường tuần hoàn não (cerebrolysin, gliatilin, citicholin..), thuốc làm thức tỉnh tế bào não (nootropyl, ginko biloba... )
Ngay sau khi xảy ra tai biến, người bệnh  cần được chăm sóc cẩn thận để phòng ngừa loét do đè ép, nhiễm trùng ở phổi hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu.
Phẫu thuật
Một số trường hợp cần được điều trị bằng phẫu thuật như: xuất huyết não
- màng não, máu tụ nội sọ... Chỉ định phẫu thuật do thầy thuốc phẫu thuật thần kinh đưa ra. Can thiệp phẫu thuật để mở hộp sọ lấy máu tụ, đặt cầu nối động mạch khi có động mạch bị tắc hoặc kẹp đoạn mạch bị vỡ... Những phẫu thuật này được thực hiện ở bệnh viện tuyến Trung ương hoặc Tỉnh.

4.1. Phục hồi chức năng Y học

4.2. Biện pháp xã hội

Những người bị tai biến mạch não chiếm tỷ lệ khá lớn trong xã hội, do vậy họ cần được xã hội quan tâm và hỗ trợ. Quan trọng nhất là tạo cơ hội để họ tiếp cận dịch vụ công cộng: y tế - phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm và các dịch vụ khác như thể thao, văn hoá...  Những cá nhân này cần được liên kết với nhau để chia xẻ kinh nghiệm và giúp nhau trong quá trình hội nhập xã hội. Hội hoặc Câu lạc bộ người khuyết tật là một tổ chức có vai trò quan trọng hỗ trợ người khuyết tật hoà nhập cộng đồng.

4.3. Thay đổi thiết kế xây dựng tại nhà /môi trường xung quanh

Để người bệnh có thể tự chăm sóc bản thân một cách độc lập, cần chú ý xem có thể sửa sang lại lối đi, độ rộng cửa, chiều cao của vệ sinh và bếp, chỗ tắm giặt...  Cầu thang nên được thay bằng lối đi dốc phẳng cho xe lăn...

4.4. Hỗ trợ về tâm lý

Người bệnh sau tai biến thường bị rối loạn cảm xúc như: trầm cảm, không ham muốn, thiếu động  cơ tập luyện, không cố gắng; nhiều người tự coi mình làm trung tâm sự chú ý và chăm sóc, muốn  được phục vụ và quan tâm...  Do vậy, tuỳ theo tâm lý của người bệnh mà gia đình, cộng tác viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng và những người xung quanh cần hỗ trợ, nâng đỡ, động viên họ, giúp họ tham gia tích cực vào việc tập luyện và phục hồi chức năng.

4.5. Giáo dục bệnh nhân và gia đình

Người bệnh và gia đình cần được hướng dẫn về các nội dung:
- Cách theo dõi huyết áp, và chế độ ăn uống.
- Phòng ngừa và loại bỏ các yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch máu não.
- Cách hỗ trợ người bệnh tập luyện.
- Cách hỗ trợ người bệnh tự chăm sóc bản thân một cách độc lập.
- Những thay đổi môi trường gia đình để người bệnh có thể tái hoà nhập cộng đồng.
- Xem xét và giải quyết vấn đề việc làm cho người bệnh ở độ tuổi lao động.
 
 
ChÂM CỨU TẠI NHÀ
Địa chỉ: Bệnh viện Châm cứu Trung ương
49 Thái Thịnh - Đống Đa - Hà Nội 
Điện thoại: DrHải 0936.34.32.30
Email: chuabenhtainha@gmail.com
http://www.chuabenhtainha.com 
DMCA.com Protection Status